Bất Bạo Động Đồng Nghĩa Với Độc Tài Cộng Sản Muôn Năm! Người Việt Phải Hành Động Để Tự Cứu Mình! Đừng Trông Chờ Bất Kỳ Ai. Blog hoạt động từ ngày 28 tháng 2 năm 2.012

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

Sự Tước Đoạt Tài Sản Nông Dân Dưới Thời Sô Viết


Bài 2

Cội Nguồn Của Vụ Án
Cải Cách Ruộng Đất Đẫm Máu
Ở Miền Bắc Việt Nam
Vào Thập Niên 1950


LƯỢC GHI CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH NÔNG NGHIỆP
TỪ THỜI PHONG KIẾN ĐẾN CỘNG SẢN

       1/ Trước Cải Cách Giải Phóng 1861

       Đế quốc Nga là đất của nông dân, ít nhất 80% dân số là nông dân. Có hai loại nông dân, nông dân sống trên mảnh đất của nhà nước, và nông dân sống trên mảnh đất của chủ đất là tư nhân. Thành phần nông dân thứ hai bị gọi là nông nô. Đối với nông nô, ngoài việc tuân thủ các bổn phận đối với nhà nước, họ còn phục tùng chủ đất, kẻ có nhiều quyền lực trên mạng sống của họ. Vào giữa thế kỷ 19 có gần phân nửa nông dân Nga là nông nô.

       Dân số miền quê sống trong dvory (số ít là dvor) gồm một hay nhiều gia đình, tụ tập lại thành làng gọi là derevni (làng lớn được gọi selo) do mir điều khiển (xã hoặc obshchina). Đây là đơn vị hành chính phần lớn tự quản, tự cung cấp có đặc tính cô lập và bảo thủ, trải dài trên vùng đất 1 km hay xa hơn. Có khoảng 20 triệu dvory trên khắp đế quốc Nga, 40% trong đó có từ 4 tới 6 người trong một dvor.

       2/ Cuộc Giải Phóng Năm 1861

       Theo sau công cuộc Cải Cách Và Giải Phóng Năm 1861 và kết thúc Chế Độ Nông Nô ở Nga, nông dân giành được sự kiểm soát phân nửa số đất họ canh tác trước đó và bắt đầu ngay việc đòi hỏi tái phân phối tất cả đất. Tuy nhiên giấc mơ làm chủ miếng đất của nông dân không dễ dàng đạt được, với kỹ thuật canh tác thô sơ vào lúc đó, và không có đủ đất để giúp cho mọi người muốn có nông trại riêng tư.

       Sự Giải Phóng Năm 1861 ở Nga là cải cách tự do đầu tiên và quan trọng nhất trong thời kỳ cai trị của Nga Hoàng Alexander Đệ Nhị. Cuộc cải cách sau cùng loại trừ tình trạng nô lệ mà phần lớn nông dân Nga phải chịu đựng trước đó.

       3/ Chính Sách Tước Đoạt Tài Sản Nông Dân Dưới Thời Sô Viết


Tranh tuyên truyền của Sô Viết
 với giòng chữ:
“Hãy quăng bọn Kulak
 ra khỏi nông trại tập thể.”
Ảnh nguồn: wiki.

       Sau khi cướp được chính quyền, Bolshevik (Cộng Sản Liên Sô) có ít lựa chọn, thành ra phải cho phép nông dân giữ đất và canh tác riêng tư. Tuy nhiên, trong thập niên 1920, Bolshevik bắt đầu thiên về ý kiến Tập Thể Hóa Nông Nghiệp. Các thôn xã trước đó tái phân phối đất một cách thưa thớt đã làm ít để khuyến khích cải tiến đất, nhưng lại hình thành nguồn sức mạnh nằm bên ngoài kiểm soát của chính quyền Sô Viết.

       Dù cho khoảng cách lợi tức giữa nông dân giàu và nghèo phát triển từ lúc có Chính Sách Kinh Tế Mới (sau năm 1917), tuy không lớn lắm nhưng nhà nước Sô Viết bắt đầu nhắm tới thành phần Kulak giàu có để ra tay cướp đoạt .

       Và mặc dù việc xác nhận thành phần này khó khăn bởi vì chỉ có 1% nông dân thuê mướn lao động (theo định nghĩa của người theo Chủ Nghĩa Marx đấy là bóc lột sức lao động), và 80% dân số trong Liên Bang là nông dân. Việc phân chia đất ngang nhau giữa các nông dân tăng cao, trong khi đó lại xảy ra tình trạng thiếu hụt thực phẩm tại các thành phố.

       Mức sản xuất ngũ cốc trở lại gần với trước chiến tranh (1914 – 1918), nhưng số ruộng đất có diện tích lớn và sản xuất nhắm tới các thị trường ở thành phố đã bị phân chia. Không quan tâm tới việc kiếm được tiền để mua hàng hóa với giá quá cao, nông dân chọn cách tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra thay vì bán đi, vì thế cư dân thành phố chỉ thấy được có phân nửa lượng thực phẩm.

       Trước “Cách Mạng Tháng 10 năm 1917”, 16 triệu nông dân kiểm soát chỉ có 2.100.000 km² đất, sản suất ra 50% thực phẩm ở Nga và tiêu thụ 60%. Sau “cách mạng”, 25 triệu nông dân kiểm soát 3.140.000 km² đất canh tác, sản xuất ra 85% nhưng tiêu thụ 80% những gì họ trồng được.

       Đảng Cộng Sản Liên Sô không bao giờ hài lòng với kiểu sản xuất nông nghiệp cá thể tư nhân và thấy rằng Tập Thể Hóa là biện pháp tốt nhất giải quyết tình trạng này. Lenin tuyên bố “Sản xuất bình diện nhỏ khai sinh Chủ Nghĩa Tư Bản và Giai Cấp Tư Sản một cách thường xuyên hàng ngày hàng giờ với lực mạnh mẽ.”.

       Một phần từ mục tiêu lý thuyết, Stalin cũng mong ước đề ra chương trình gia tăng nhanh Công Nghiệp Hóa (kỹ nghệ hóa) đòi hỏi số thặng dư lớn hơn rút ra từ khu vực nông nghiệp để nuôi ăn lực lượng công nhân đang phát triển và trả chi phí cho việc nhập cảng máy móc.

       Nhà  nước cũng hy vọng xuất cảng ngũ cốc, nhằm tạo một nguồn ngoại tệ cần thiết để nhập cảng các kỹ thuật cần thiết cho nền Công Nghiệp Hóa nặng nề. Các mục tiêu lý thuyết và xã hội cũng phục vụ xuyên qua việc động viên nông dân trong cơ chế kinh tế hợp tác mà sẽ sản xuất cao hơn cho nhà nước.

       Tại Liên Bang Sô Viết, Tập Thể Hóa Nông Nghiệp là chính sách được theo đuổi từ năm 1928 tới 1933 nhằm mục đích hợp nhất lao động và đất nông dân cá thể vào trong các nông trại tập thể (chữ Nga: колхо́з, kolkhoz), và các nông trường quốc doanh (chữ Nga: совхо́з, sovkhoz) do nhà nước trực tiếp quản lý.


Một cái chuông bị tháo khỏi
nhà thờ ở Poltava - Ukraine năm 1930,
để lấy “nguyên liệu”
phục vụ cho Công Nghiệp Hóa.
Ảnh nguồn:


       a/ Nông trại tập thể (kolkhoz)

       Trong một kolkhoz (phát âm là [kɐl’xos], số nhiều là kolkhozy), thành viên được gọi kolkhoznik, và phân chia sản phẩm nông nghiệp và lợi nhuận tùy theo số lượng ngày lao động. Trong khi đó ở sovkhoz (nông trường quốc doanh) thuê mướn nhân công và trả lương theo tháng.

       Ngoài ra kolkhoz được yêu cầu bán sản phẩm thu hoạch cho nhà nước với giá cố định. Giá mua của nhà nước ấn định thấp và khác với những gì nhà nước bán lại cho người tiêu thụ. Năm 1948, nhà nước đòi người bán sỉ trả 335 rubles cho 100 kg lúa mạch đen nhưng lại trả cho kolkhoz chỉ có 8 rubles. Giá mua của nhà nước không thay đổi gì hết trong khoảng thời gian từ năm 1929 tới 1953, điều này có nghĩa nhà nước trả chưa tới phân nửa hay ngay cả 1/3 trị giá sản phẩm.

       Các thành viên kolkhoz được phép giữ lại miếng đất nhỏ canh tác riêng tư cùng với ít gia súc. Kích thước mảnh đất riêng này thay đổi theo từng thời kỳ Sô Viết nhưng trung bình chỉ khoảng một mẫu Anh. Trước “Cách Mạng 1917”, một nông dân gọi là nghèo khi có dưới 13,5 mẫu Anh để nuôi sống gia đình.

       Tuy nhiên, năng suất ở những mảnh đất riêng tư này lại khác, vào năm 1938, có 3,9% trong tổng số đất được gieo trồng là đất tư, nhưng trong năm 1937 những mảnh đất nhỏ riêng tư đó lại tạo ra 21,5% tổng sản lượng nông nghiệp cho đế quốc Cộng Sản Liên Sô.

       Các thành viên của kolkhoz (nông trại tập thể) được yêu cầu phải đóng góp tối thiểu một số ngày công trong kolkhoz và trong các công việc khác của nhà nước như làm đường...Trong kolkhoz qui định tối thiểu 130 ngày dành cho các tráng niên khỏe mạnh và 50 ngày cho thiếu niên từ 12 tới 16 tuổi.

       Thời lượng lao động này được phân phối quanh năm theo chu kỳ nông nghiệp. Nếu một thành viên không hoàn thành đúng qui định lao động của nông trại dành cho, hình phạt sẽ tới bằng cách tịch thu miếng đất tư, bị xét xử trước “Tòa Án Nhân Dân”, án phạt thường là 3 tới 8 tháng lao động nặng nhọc trong kolkhoz, hay lên tới một năm trong các trại cải tạo lao động.

       Trong cả kolkhoz và sovkhoz, một hệ thống thông hành nội bộ được áp dụng nhằm ngăn chận di chuyển từ vùng quê tới thành thị. Cho tới năm 1969, tất cả  đứa trẻ sinh tại kolkhoz, khi đến tuổi lao động phải làm việc trong kolkhoz như các tráng niên theo luật qui định, chỉ khi nào được phép đặc biệt mới được rời đi. Vì thế nông dân bị bó buộc cuộc đời họ vào kolkhoz và sovkhoz trong những gì được mô tả là “hệ thống nông nô mới”.

       b/ Nông trường quốc doanh

       Về phần nông trường quốc doanh (sovkhoz) do nhà nước điều hành, nông dân lao động trong đó được gọi chính thức là công nhân nông trường. Đầu tiên các nông trường quốc doanh được tạo ra do nhà nước tịch thu số ruộng đất lớn, trong khi các nông trại tập thể hình thành là do kết hợp nhiều nông trại cá nhân nhỏ hơn. Đứng đầu nông trường quốc doanh là một giám đốc do nhà nước bổ nhiệm. Quan trọng nhất là tiền đầu tư vào nông trường được tài trợ bởi ngân quỹ nhà nước. So sánh, nông trường quốc doanh có ưu thế về tài chính hơn nông trại tập thể.

       Đây là lý do chính yếu cho sự chuyển đổi các nông trại tập thể yếu kém thành các nông trường quốc doanh sau Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là một tiến trình được thúc đẩy do Chính Sách Hội Nhập Công - Nông Nghiệp của chính quyền Sô Viết, và sau cùng phát triển một phức hợp Công - Nông Nghiệp bao gồm nông trại tập thể và nông trường quốc doanh.

       Vai trò nông trường quốc doanh trong nông nghiệp phát triển dần dần trong thời kỳ Sô Viết. Số lượng lớn dần từ 1.500 vào năm 1929 tới 23.000 nông trường vào cuối thời kỳ Gorbachev, lúc gần hết thập niên 1980.

       Sự mở rộng này một phần từ kết quả của chính sách Sô Viết là hợp nhất và chuyển đổi nông trại tập thể thành nông trường quốc doanh, và một phần từ việc sử dụng các nông trường quốc doanh trong các chương trình đặc biệt mở rộng các vùng đất canh tác.

       Trong suốt thập niên 1930, nông trường nhà nước chiếm vùng gieo trồng trung bình là 6.000 mẫu Anh (36 km²). Tới cuối thập niên 1980, đất canh tác của nông trường trung bình là 11.000 mẫu Anh (45 km²). Có sự khác nhau đáng kể trong sản lượng giữa nông trại tập thể và nông trường, nông trường được xem là tổ chức sản xuất có năng suất và lợi nhuận nhiều hơn.

       Với vị trí khiêm nhường đầu thập niên 1930, vai trò nông trường nhà nước cứ gia tăng theo thời gian. Các nông trường chính yếu sản xuất ngũ cốc, rau quả, trứng, trong khi thịt lại chiếm vị trí ít quan trọng.

       Vào năm 1990, Liên Sô có 25.500 nông trại, trong đó nông trường chiếm 45% và nông trại tập thể chiếm 55%. Kích thước trung bình của nông trường là 153 km², lớn gấp hai lần nông trại tập thể. Các nông trường phần lớn nằm trong vùng Châu Á của lãnh thổ Liên Sô.

       Sau khi chế độ độc đảng bị giải tán ở đế quốc Cộng Sản Liên Sô, các hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể trong kinh tế dần dần bị chuyển đổi theo mô hình sở hữu tư nhân để kích thích sản xuất và cạnh tranh cũng như tôn trọng quyền tự do hoạt động kinh tế của công dân.

       Các biện pháp ăn cắp của nhà nước Sô Viết thời Stalin đã phá hủy hệ thống kinh tế ở các làng cổ. Chính sách nguy hiểm này đẩy đời sống làng xóm có truyền thống dựa vào nông nghiệp của nhiều dân tộc trong Liên Bang Sô Viết vào chỗ tai họa.


 Một cây thập tự và mái vòm bị
tháo khỏi nhà thờ ở
thành phố Byrzuly, Moldavia năm 1930
(nơi này, năm 1935 thuộc Odesa, Ukraine).
Ảnh nguồn:


Phạm Hoàng Tùng biên soạn.

Nguồn tài liệu tham khảo và trích dẫn từ:




Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Stalin Và Chính Sách “Cải tạo” Nông Nghiệp Không Tưởng


Bài 1

Cội Nguồn Của Vụ Án
Cải Cách Ruộng Đất Đẫm Máu
Ở Miền Bắc Việt Nam
Vào Thập Niên 1950


 Tác phẩm “Bước Ngoặt Vĩ Đại – 1929”
 của Họa Sĩ Ukraine Olexander Makarenko
sáng tác năm 1988 trên chiếc bao tải.
Tác phẩm tiêu biểu sự gãy đổ
Liên Minh Giữa Nông Dân Và Công Nhân –
một quan điểm giai cấp
do Đảng Cộng Sản nhào nặn ra.
Chính Đảng Cộng Sản phá hủy
chiêu bài ”Liên Minh Công Nông” của đảng.
Ảnh nguồn: wiki.
      
CHÍNH SÁCH TẬP THỂ HÓA NÔNG NGHIỆP

       Dẫn Nhập

       Tháng 11/1927, Joseph Stalin phát động “Cuộc cách mạng từ bên trên” bằng cách định ra hai mục tiêu đặc biệt cho chính sách nội bộ của Sô Viết, đó là tăng nhanh Công Nghiệp Hóa (kỹ nghệ hóa) và Tập Thể Hóa Nông Nghiệp.

       Mục tiêu của Stalin là thủ tiêu tất cả dấu vết của Chủ Nghĩa Tư Bản đã đi vào xã hội qua Chính Sách Kinh Tế Mới (do Lenin bày ra), và chuyển đổi Sô Viết thành một nước Xã Hội Chủ Nghĩa hoàn toàn, được Công Nghiệp Hóa càng sớm càng tốt, không kể tới bất cứ thiệt hại nào sẽ xảy ra.

       Kế Hoạch Năm Năm Lần Thứ Nhất của Stalin được đảng đề ra năm 1928 kêu gọi tăng nhanh Công Nghiệp Hóa nền kinh tế với sự nhấn mạnh về công nghiệp nặng. Kế hoạch đề ra mục tiêu không thực tế, gia tăng 250% trên toàn bộ phát triển công nghiệp, và 330% mở rộng chỉ trong lĩnh vực công nghiệp nặng (kỹ nghệ nặng).

       Tất cả nền công nghiệp và dịch vụ bị quốc hữu hóa, các quản trị gia của nền kinh tế bị các nhà làm kế hoạch ở trung ương (cầm đầu đảng chỉ biết đưa ra “nghị quyết”) ấn định cho trước chỉ tiêu sản lượng phải đạt được, các nghiệp đoàn công nhân bị thay đổi thành cơ chế bị Cộng Sản kiểm soát chặt hơn nữa để gia tăng năng suất của công nhân.

       Nhiều trung tâm công nghiệp mới được phát triển, đặc biệt ở vùng núi Ural*, và hàng ngàn nhà máy mới được xây dựng trên khắp lãnh thổ Sô Viết. Nhưng bởi vì Stalin nhấn mạnh tới các mục tiêu không hiện thực, các vấn đề nghiêm trọng trong phát triển chẳng mấy chốc nổi lên, với lượng đầu tư lớn nhất đổ vào ngành công nghiệp nặng, việc thiếu hụt hàng tiêu dùng cho đại đa số người dân đã xảy ra.

       Kế Hoạch Ngũ Niên Thứ Nhất cũng kêu gọi chuyển đổi nền nông nghiệp Sô Viết từ các nông trang phần lớn do tư nhân làm chủ thành những nông trại tập thể do nhà nước quản lý. Chế độ Cộng Sản tin rằng Tập Thể Hóa Nông Nghiệp sẽ cải tiến năng suất nông nghiệp và tạo ra dự trữ ngũ cốc nhiều hơn để cung cấp cho lực lượng công nhân đang gia tăng ở các thành thị.

       Chủ trương Tập Thể Hóa cũng hy vọng sẽ “giải phóng” số lượng lớn nông dân để cung cấp thêm nhân lực cho công nhân, cạnh đó sẽ tạo điều kiện cho đảng mở rộng ảnh hưởng chính trị đối với số nông dân còn lại. 

       Stalin tập chú đặc biệt vào thành phần nông dân giàu có được gọi là Kulak, khoảng một triệu gia đình Kulak (5 triệu người) bị trục xuất và người ta không bao giờ nghe biết tới họ một lần nữa. Chính Sách Tập Thể Hóa cưỡng bức số nông dân còn lại bị kháng cự dữ dội dẫn tới tai họa phá vỡ năng suất nông nghiệp và nạn đói xảy ra năm 1932-33.

       Mặc dù Kế Hoạch Ngũ Niên Thứ Nhất kêu gọi Tập Thể Hóa chỉ 20% số gia đình nông dân, nhưng tới năm 1940 ước lượng có 97% tất cả gia đình nông dân bị Tập Thể Hóa và quyền làm chủ riêng tư các tài sản bị hủy bỏ hoàn toàn. Đường lối Tập Thể Hóa cưỡng bức đã giúp Stalin đạt tới mục tiêu Công Nghiệp Hóa nhanh chóng nhưng sự tổn thất về con người thì không thể tính được.


“Chúng ta hãy biến
 Kế Hoạch 5 Năm
thành Kế Hoạch 4 Năm”,
 khẩu hiệu tuyên truyền
vào năm 1930.
Ảnh nguồn:wiki

KẾ HOẠCH NĂM NĂM LẦN THỨ NHẤT

       Kế Hoạch Năm Năm Lần Thứ Nhất là một danh sách các mục tiêu kinh tế được dự kiến củng cố nền kinh tế giữa các năm 1928-1932, tạo cho Liên Bang Sô Viết tự túc về quân sự và công nghiệp. “Chúng ta ở phía sau các nước tiên tiến từ 50 tới 100 năm. Chúng ta phải vượt qua khoảng cách này trong 10 năm. Chúng ta phải làm được hay sẽ bị họ đánh bại?”.

       Đây là phát biểu của Stalin vào năm 1931, tạo lý do đề ra kế hoạch rõ ràng hơn và gây nhiều sức ép hơn sau này. Kế Hoạch Ngũ Niên Đệ Nhất được chế độ phát động vào năm 1928 và được Gosplan (Ủy Ban Kế Hoạch Tổng Quát) quản trị.

       Một trong những mục tiêu đầu tiên của Kế Hoạch Ngũ Niên Đệ Nhất là xây dựng ngành công nghiệp nặng. Năm 1929, Stalin sắp xếp kế hoạch bao gồm cả việc tạo ra kolkhoz, hệ thống nông trường tập thể trải dài trên hàng ngàn mẫu Anh (mẫu Anh/acre có 4.050 mét vuông, một hectare có 10.000 mét vuông) và có hàng trăm ngàn nông dân làm việc trong đó.

       Việc tạo ra nông trường tập thể đã thủ tiêu thành phần Kulak mà nhà nước coi đó là một giai cấp phải đấu tranh tiêu diệt, sự kiện này cũng gây ra việc tàn sát hàng triệu gia súc, vì nông dân muốn giết bỏ chứ không chịu giao nộp cho các nông trường khổng lồ.

       Sự rối loạn này dẫn tới nạn đói ở Ukraine cũng như ở những vùng thuộc Bắc Caucasus thường được biết là nạn Holodomor giết chết hàng triệu người. Bên cạnh tàn phá gây thiệt hại cho đời sống, chủ trương thực hiện Tập Thể Hóa cũng cho phép nông dân sử dụng các máy kéo canh tác đồng ruộng, không giống như trước kia khi hầu hết nông dân quá nghèo để làm chủ một máy kéo.

       Chính quyền quản lý các trạm máy kéo được thành lập trên khắp lãnh thổ Liên Bang và nông dân được cho phép sử dụng máy kéo công cộng này để canh tác gia tăng sản lượng cho chính họ. Nông dân được cho phép bán bất cứ các sản lượng thặng dư sau các vụ mùa. 

       Tuy nhiên chính quyền thất bại trong việc chú ý tới tình hình ở các địa phương. Trong năm 1932, sản xuất ngũ cốc thấp 32% dưới trung bình, để bù lại số hao hụt này việc tìm kiếm thêm lương thực được gia tăng lên 44%. Sản xuất nông nghiệp bị phá vỡ tới độ nạn đói bùng ra ở vài khu vực. Sự giới thiệu Tập Thể Hóa làm chuyển động dân số, Liên Sô có 80% dân cư là nông dân, nhiều người đã di chuyển từ miền quê tới thành phố làm công nhân trong các ngành công nghiệp đang phát triển.

       Mặc dù nhiều mục tiêu cao không thể tin được (gia tăng 250% trên toàn bộ phát triển công nghiệp với 330% mở rộng trong ngành công nghiệp nặng) một số kết quả đáng kể đạt được như sau :

       1/ Gang: 6,2 triệu tấn (so sánh với 3,3 triệu tấn trong năm 1928, mục tiêu đề ra là 8 triệu tấn).

       2/ Thép: 5,9 triệu tấn (so sánh với 4 triệu tấn năm 1928, mục tiêu đề ra là 8,3 triệu tấn).

       3/ Than đá: 64,3 triệu tấn (so sánh với 35,4 triệu tấn năm 1928, mục tiêu đề ra là 68 triệu tấn).

       4/ Dầu: 21,4 triệu tấn (so sánh với 11,7 triệu tấn năm 1928, mục tiêu đề ra là 19 triệu tấn).

       5/ Điện: 13,4 tỷ KW/giờ (so sánh với 5 tỷ KW/giờ năm 1928, mục tiêu đề ra là 17 tỷ KW/giờ).

       Trong khi kế hoạch có thành công chừng mực trong công nghiệp (ngành kỹ nghệ) thì phía nông nghiệp lại gây tổn hại, cho tới sau Đệ Nhị Thế Chiến vẫn chưa phục hồi hoàn toàn. Theo cái nhìn của thành phần cầm đầu Sô Viết, Kế Hoạch Năm Năm Lần Thứ Nhất thành công vì thế Kế Hoạch Năm Năm Lần Thứ Hai lại được đề ra trong năm 1932 kéo dài tới 1937. 

*Vùng núi Ural:Dãy núi phía Bắc Nga, kéo dài tới 1.600 km về phía Nam, từ Arctic Ocean tới Biển Aral, Ural có ngọn núi Narodnaya cao 1.894 m. Dãy núi Ural phân chia Âu Châu và Á Châu.


Phạm Hoàng Tùng biên soạn.

Nguồn tham khảo và dữ kiện được trích từ:     


Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Trưng Thu Tài Sản Bất Hợp Pháp Của Kẻ Cầm Đầu


Trưng Thu Tài Sản Bất Hợp Pháp
Của Kẻ Cầm Đầu


Bộ đội Cộng Sản
từ rừng rú vào Sài Gòn
vài ngày sau 30 tháng 4/1975.
Những thanh niên Miền Bắc non dại
 bị các đầu Đảng lợi dụng
 bóc lột xương máu
làm hoang phí đời trai Việt.
Ảnh nguồn:amazonaws.com.
PHT trích từ blog Tô Hải.



Quân Khmer Đỏ hay
Cộng Sản Cam Bốt (Kampuchea, Campuchea)
tiến vào “giải phóng”
thủ đô Phnom Penh (Nam Vang)
ngày 17/4/1975.
Hậu quả 4 năm sau đó có gần
2 triệu người dân bỏ xác
trên các cánh đồng hợp tác hoang tưởng
 và trại cải tạo lao động rùng rợn.
Ảnh nguồn:

       Trưng thu tài sản bất hợp pháp của Đảng Cộng Sản Việt Nam và những cá nhân tội phạm từng nắm giữ các chức vụ then chốt từ cấp cao xuống đến cấp xã phường của Đảng Cộng Sản Việt Nam là việc xa cũng là việc gần của toàn dân Việt.

       Do đó rất cần thiết, cho nên người Việt chúng ta phải nói đến để làm minh bạch lịch sử dân tộc.

       Thời kỳ nói láo, gian lận, trộm cắp, cướp của, giết người, hại dân, hại nước của những kẻ cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam sắp đến hồi kết thúc, và họ phải trả lại những gì họ lừa bịp, ăn cướp của đồng bào, đất nước.

       Giai đoạn chuyển tiếp sắp đến, một trong những việc hệ trọng của tân quốc gia Việt Nam mà Hội Nghị Lập Hiến Dân Chủ bàn đến và phải quyết định là lập ra một Ủy Ban Tư Pháp Độc Lập bao gồm những người hiểu biết luật pháp dân chủ và luật quốc tế, cũng như họ phải có quan điểm chính trị vì quyền lợi dân tộc và quốc gia Việt Nam, chứ không vì bất cứ phe nhóm, cá nhân hay đoàn thể nào.  

       Ủy Ban này có nhiệm vụ tiến hành các cuộc điều tra những kẻ cầm đầu Đảng Cộng Sản đã chết hay hồi hưu hoặc hiện đang còn sống lén lút ở trong nước hay thay tên đổi họ bỏ chạy trốn ra nước ngoài để xem xét số tài sản khổng lồ của cá nhân và gia đình họ đang thụ đắc có hợp pháp hay không? Khi xét theo hiện tình dân tộc và đất nước.

       Tất nhiên có cả cuộc điều tra sâu rộng và thật chi tiết về tài sản bất chính của Đảng Cộng Sản Việt Nam trên danh nghĩa chính thức hay núp dưới các hình thức chuyển nhượng, sang tên hoặc dưới các hình thức Tập Đoàn kinh tế, hay giấu đút ở nước ngoài như mua đất, mua biệt thự, gởi vào các tài khoản ở ngân hàng Thụy Sĩ….

       Để xem xét tài sản đó là hợp pháp hay bất hợp pháp, Ủy Ban Tư Pháp Độc Lập phải thẩm vấn đương sự (bị cáo) hoặc những người liên quan như thân nhân gia đình họ và các nhân chứng tại địa phương hoặc nhân chứng là dân oan có liên hệ trong các vụ bị cướp đất, cướp nhà cửa, tài sản, đổi tiền, cải tạo công thương nghiệp, cải tạo nông nghiệp, đánh tư sản mại bản… mà các Nghị Quyết Đảng đã nêu lên trong suốt thời kỳ họ cầm quyền từ tháng 7 năm 1954 ở Miền Bắc và từ 30/4/1975 ở Miền Nam.

       Các Nghị Quyết Đảng từ thời thành lập đảng cho đến nay, cũng như rất nhiều dữ kiện nội bộ trong các báo nô lệ đảng là tạp chí Học Tập, tạp chí Cộng Sản, Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, các nhật báo, báo điện tử, tài liệu phát thanh, truyền hình do đảng nuôi dưỡng là những bằng chứng xác thực nói lên chủ trương cùng hành động cướp tài sản quốc gia, cướp tài sản nhân dân, cướp tài sản xã hội.

       Do vậy các thành viên trong Ủy Ban Tư Pháp Độc Lập phải tra cứu các báo chí, phương tiện truyền thông này để dùng làm vật tang chứng hỏi tội Đảng Cộng Sản và những nhân vật đầu đảng.

       Ủy Ban Tư Pháp Độc Lập cũng tiến hành điều tra mức lương mà đương sự tức bị cáo, dù đã chết hay còn sống, được nhận là bao nhiêu. Số lương hàng tháng này có phù hợp với tài sản khổng lồ mà họ và gia đình, thân nhân (những người sống bám vào họ) hiện có được hay không?

       Tất cả tài sản mà kẻ cầm đầu Đảng Cộng Sản chiếm đoạt được của đồng bào hay của quốc gia phải được sung công và bán đấu giá (ở quốc nội và quốc tế) để lấy tiền xây nhà cửa cho dân nghèo hoặc chi phí cho công việc từ thiện của quốc gia, và phải được giám sát cẩn trọng để tránh bị mất mát hay thâm lạm.

       Ủy Ban Tư Pháp Độc Lập tiến hành cuộc điều tra tường tận để không làm sai quy định Hiến Pháp mới, không kết tội oan cho bị cáo và cung cấp các chứng cứ xác thực để một khi Tòa Án Hình Sự Quốc Gia được Hội Đồng Lập Hiến thành lập và mở phiên xét xử tài sản bất chính của Đảng Cộng Sản Việt Nam chiếm đoạt được từ hơn nửa thế kỷ qua, cũng như tài sản bất hợp pháp của hệ thống cán bộ đảng từ xã phường lên đến Ban Chấp Hành Trung Ương, và Bộ Chính Trị.

       Tòa Án Hình Sự Quốc Gia sẽ mở hàng loạt phiên xét xử công khai trên hệ thống truyền thông nhà nước và tư nhân cũng như hệ thống truyền thông của các tổ chức xã hội dân sự. Các bị cáo hàng đầu như những người từng nắm chức vụ đầu đảng, Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Trưởng Ban Cán Sự Đảng, Bộ Trưởng Công An sẽ được ưu tiên ra Tòa trước. Đặc biệt ba nhân vật sau đây sẽ bị Tòa Án Hình Sự Quốc Gia quan tâm thẩm vấn nhiều nhất về hành vi chỉ đạo điều động chiến dịch ăn cướp của đồng bào, đó là: nhân vật đầu đảng, Thủ Tướng, và Bộ Trưởng Công An.

       Trong thời gian xét xử công khai tại quốc nội và chuyển tải thông tin trung thực trên khắp thế giới, bất cứ dân oan nào hay công dân nào xác nhận được mặt mũi các bị cáo từng trù dập, hăm dọa, tống tiền, tống tình, sai công an đánh chết người, bày chuyện đổi tiền để làm giàu cho đảng, cho lãnh đạo thì có quyền và bổn phận cung cấp chứng cứ cho phiên xét xử.

       Ngoài ra các dư luận viên hồi chánh hay các công an mạng ra đầu thú với tân chính quyền cũng được tạo cơ hội cung cấp các chứng cứ xác thực.

       Sau phiên xử của Tòa Án Hình Sự Quốc Gia thì các phiên xử của Tòa Án Tội Phạm Đặc Biệt được thành lập để xét xử Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cố tình phạm tội ác chống lại người dân ở mọi thành phần, tội ác chống lại dân tộc Việt, tội ác chống lại sự tiến bộ phát triển của quốc gia Việt Nam, tội ác chống lại nền văn minh của nhân loại, cũng như tội ác chiến tranh chống lại ý chí hòa bình của cộng đồng thế giới.

       Những tội ác nghiêm trọng này đã diễn ra khi Cộng Sản Việt Nam phát động chiến tranh xâm lược đánh chiếm Miền Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975, cũng như trong suốt thời kỳ từ năm 1930 cho đến nay, vì cúi đầu tuân lịnh các đàn anh Cộng Sản là đế quốc Liên Sô cũ và Đại Hán Trung Cộng hiện nay.

       Các chứng cứ của bản cáo trạng về hành vi cùng chính sách phản động này phải dựa một phần vào những tài liệu có giá trị về mặt chứng cứ lịch sử do chính Đảng Cộng Sản Việt Nam đã dự trữ từ lâu đó là các tài liệu Đảng, báo đảng, báo điện tử, các Nghị Quyết Đảng trải qua từng thời kỳ phá hoại đất nước từ năm 1930 cho đến nay, và một phần từ nhiều nhân chứng sống ở trong nước và trong Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại chống Cộng hay thân Cộng.


Lý thuyết gia của
chế độ Cộng Sản Kampuchea
 là Nuon Chea.
Kẻ cầm đầu Khmer Đỏ Nuon Chea
bị mang ra trước vành móng ngựa
trong cuộc thẩm vấn
năm 2010 -2011
chuẩn bị cho phiên tòa chính thức
Xét xử Tội Ác Cộng Sản
Chống Lại Nhân Loại.
Ảnh nguồn: AFP.



Biệt thự của ông Lèo
nằm trên quốc lộ 1A
cạnh cơ quan cũ của ông là
Ban Quản lý dự án
các công trình xây dựng
thành phố Sóc Trăng. 
Phó Giám Đốc Sở Giao Thông Vận Tải
Sóc Trăng
 Nguyễn Thanh Lèo là học sinh
bổ túc văn hóa công nông
của tỉnh Sóc Trăng
chỉ học đến lớp 9.
Ảnh nguồn: Do dân địa phương chụp
 và đưa lên Liên mạng.



Căn biệt thự khu Bãi Cháy,
 bãi Cái Răm,
tỉnh Quảng Ninh của
Nguyễn Duy Hưng,
 bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh.
Ảnh nguồn: Do dân địa phương chụp
 và đưa lên Liên mạng.



Dinh của kẻ từng làm đầu Đảng
là Nông Đức Mạnh tại Hồ Tây.
Ảnh nguồn: Do dân địa phương chụp
 và đưa lên Liên mạng.



Đảng độc quyền lãnh đạo
vơ vét tất cả, dân chẳng còn gì!!!
Em Chính trong “căn nhà”
của hai bà cháu.
 Nguyễn Hữu Chính,
sinh ngày 10/08/1999
tại xóm Nguyên Thịnh, xã Thiệu Nguyên,
 huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
 Hiện em là học sinh lớp 7C
trường THCS Thiệu Nguyên,
Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
Hiện đang ở với bà ngoại
là bà Nguyễn Thị Huỳnh 74 tuổi
 (ốm yếu, hết khả năng lao động).
Ảnh nguồn:



Hơn nửa thế kỷ xây dựng
thiên đàng Xã Hội Chủ Nghĩa,
người chủ xã hội
cũng vẫn một gánh ve chai
 rách nát!!!
Còn bọn đày tớ lưu manh,
đàng điếm, xảo quyệt
thì biệt thự, xe hơi, bồ nhí,
đô la đầy túi!!!
Ảnh nguồn:



Phạm Hoàng Tùng.